Cũng bởi văn bản chữ Nho không ngắt câu sẵn mà ngày xưa có người học rất giỏi lại thi rớt oan uổng chỉ vì giám khảo đọc vội đọc vàng tự ngắt câu trật lất, hiểu sai ý sĩ tử.
Ðời Lê trung hưng ở xã Cổ Ðô, huyện Tiên Phong, trấn Sơn Tây (ngày nay Cổ Ðô thuộc huyện Ba Vì, phía tây bắc thành phố Hà Nội) có danh sĩ Nguyễn Công Hoàn, học vấn uyên thâm mà lận đận về khoa cử, thi mãi chẳng đỗ đạt gì bởi cái tật viết văn cầu kỳ, giám khảo chấm bài không có dư thời gian nghiền ngẫm cho thấu đáo, bèn đánh hỏng. Rốt cuộc, ông Hoàn cả đời chỉ làm thầy đồ và dạy học rất giỏi. Ông dạy con đẻ là Nguyễn Bá Lân (1700?-1785?) rất thành công, nên con ông thi đậu tiến sĩ năm 1731, đời vua Lê Thuần Tông (bấy giờ nhiếp chính là Chúa Trịnh Giang).
Tương truyền, khi ông Lân được triều đình bổ làm quan chủ khảo một khoa thi thì bố ông lại làm sĩ tử ứng thí, và con đánh trượt bố mà không biết (vì bài thi được rọc phách trước khi chấm).
Khoa ấy thí sinh phải làm bài phú với đầu đề là “Tây bá trị Kỳ Sơn” 西伯治岐山, lấy tích Cơ Xương (1152-1056 trước Công nguyên) được vua Trụ nhà Thương phong tước Tây bá, và ông chiêu hiền đãi sĩ, khéo dùng đức độ cai trị Kỳ Sơn là đất do cha ông là Cơ Quý Lịch gầy dựng. Con ông là Cơ Phát dấy binh diệt xong vua Trụ, xưng Vũ vương, khai sáng nhà Chu, truy tôn cha là Chu Văn vương.
Ðể dễ hiểu chuyện làm bài thi của ông Nguyễn Công Hoàn, cần tóm tắt quá trình dựng nước của cha con Tây bá như sau:
Nhà Chu ban sơ là một bộ tộc khởi nghiệp từ đất Thai 邰 (nay là phần đất thuộc tỉnh Thiểm Tây). Khi đã phát triển lớn mạnh hơn, họ di cư về đất Bân 邠 (nay là huyện Bân 彬 thuộc tỉnh Thiểm Tây). Sau đó họ lập đô tại đất Kỳ hay Kỳ Sơn (nay là một huyện phía tây tỉnh Thiểm Tây). Ðời Tây bá Cơ Xương, ông lập đô ở đất Phong 豐 (nay là phần đất thuộc Trường An, tỉnh Thiểm Tây). Năm 1126 trước Công nguyên, Cơ Phát dời đô từ đất Phong về đất Cảo 鎬 (nay là phần đất phía tây nam thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây). Như vậy, nhà Chu dựng đế nghiệp trong phạm vi tỉnh Thiểm Tây ngày nay, lần lượt từ đất Thai, Bân, Kỳ, Phong, sau cùng đóng đô ở Cảo.
Trở lại chuyện bố con ông Hoàn. Khi việc trường thi đâu đấy xong xuôi, ông Lân về thăm nhà. Sốt ruột, bố hỏi:
– Khoa này có được bài nào khá không?
Con đáp:
– Có một bài khá, chỉ vì đặt câu thất niêm, không thể chấm cho đậu.
Chột dạ, bố liền hỏi:
– Câu ấy thế nào? Có nhớ không?
Vốn thông minh, trí nhớ tốt, nên ông con đọc ngay, dĩ nhiên tự ngắt câu theo cách ông hiểu:
“Lưu hành chi hóa tự Tây Ðông, Nam Bắc vô tư bất phục.
Thành tựu chi công tự Cảo Bân, Kỳ Phong hữu khải tất tiên.” (1)
Ông con tỏ ý tiếc rẻ:
– Giá như câu dưới đổi hai chữ “Cảo Bân” thành “Bân Cảo” cho đúng niêm luật thì đã được chấm đậu rồi.
Nghe xong, ông bố lập tức xách gậy đánh con, mắng nhiếc, và thề không bao giờ đi thi nữa, vì té ra giám khảo quá kém cỏi. Bấy giờ ông con mới biết hai câu đó của bố cũng là thầy giáo của mình viết ra:
流行之化自西東南北無思不服
成就之功自鎬邠岐豐有啟必先
Theo ý ông bố, để đúng trình tự lập quốc của nhà Chu, phải ngắt câu như sau:
“Lưu hành chi hóa tự Tây; Ðông, Nam, Bắc vô tư bất phục.
Thành tựu chi công tự Cảo; Bân, Kỳ, Phong hữu khải tất tiên.”
Nghĩa là:
Ðức giáo hóa lan truyền đi từ hướng Tây; ba hướng Ðông, Nam, Bắc đâu đâu cũng nghĩ tới mà phục tùng theo.
Công thành tựu từ đất Cảo, ắt trước tiên có sự khởi đầu ở đất Bân, đất Kỳ, đất Phong.
Chuyện này chả biết hư thực thế nào. Rất có thể là các thầy đồ ngày xưa “sáng tác” trong lúc trà dư tửu hậu để răn dạy học trò làm bài thi chớ nên viết văn cầu kỳ, khó hiểu, đánh đố giám khảo, vì lẽ giám khảo đâu có rảnh rang mà vắt óc tìm cho ra ý tứ cao thâm ẩn áo trong lúc đang còn phải chấm cho xong biết bao nhiêu bài thi (xưa gọi là quyển 卷, vì gồm nhiều tờ, sĩ tử phải tự đóng lại thành tập).
(trích từ bài “Chuyện cũ kể lại: Ôi, phết với phẩy!” – của tác giả Huệ Khải)
Nguồn: http://www.cgvdt.vn/xa-hoi/gia-dinh/goc-nha/chuyen-cu-ke-lai-oi-phet-voi-phay_a11498









