II. TRƯỞNG THÀNH TRONG MÁU ÐÀO
Năm 1802, Vua Gia Long thống nhất sơn hà, mở ra triều đại nhà Nguyễn, tình hình ổn định, lắng đọng. Tình trạng Giáo Hội Công Giáo Việt nam được ghi nhận như sau :
Giáo phận Ðàng Trong : 1 giám mục, 5 hừa sai, 15 thầy cả và 60.000 tín hữu
Giáo phận Tây Ðàng Ngoài : 1 giám mục, 4 thừa sai, 41 thầy cả và 120.000 giáo dân.
Giáo phận Ðông Ðàng Ngoài : 1 giám mục, 4 thừa sai, 41 thầy cả và 140.000 giáo dân.(2)
Hạt giống Tin Mừng được gieo vào lòng dân Việt, âm thầm lớn lên và đâm hoa kết trái; nhưng biết bao giông tố kinh hoàng, bắt bớ, giam cầm, tra tấn, thảm sát và phân sáp các tín hữu vì niềm tin sắt son vào Ðức Kitô qua những thăng trầm lịch sử các triều đại :
– 30.000 anh hùng Việt nam Tử Ðạo dưới thời Chúa Trịnh Ðàng ngoài; Chúa nguyễn và Nhà Tây Sơn ở Ðàng Trong.
– 40.000 chiến sĩ đức tin đã anh dũng tuyên xưng đức tin dưới ba triều đại: Minh Mạng (1820-1841), Thiệu Trị (1841-1847) và Tự Ðức (1848-1883).
– 60.000 tín hữu kiêu hùng chết vì tin vào Chúa Kitô do việc bắt bớ, thảm sát, phân sáp của phong trào Văn Thân (1862-1885).
Trong số 130.000 tiền nhân anh dũng hi sinh mạng sống để bảo vệ đức tin :
– 64 vị được tôn phong “chân phước” do Ðức Thánh Cha lêo XIII ngày 07-05-1900
– 8 vị được nâng lên hàng “chân phước” do Ðức Thánh Cha Piô X ngày 15-04-1906 và thêm 20 Vị vào ngày 11-04-1909 .
– 25 Vị được tuyên xưng “chân phước ” do Ðức Thánh Cha Piô XII ngày 29-04-1951 .
117 Chân phước tử đạo Việt nam gồm có 96 Vị thánh Việt nam, 10 Thánh thuộc hội Thừa sai ba lê và 11 Vị thuộc dòng Ða minh Tây ban Nha. Các ngài bao gồm mọi thành phần dân Chúa :
– 8 Giám mục (6 dòng Ða Minh, 2 Hội Thừa sai Ba Lê )
– 50 linh mục (37 linh mục Việt nam, 5 giáo sĩ dòng Ða Minh Tây ban Nha và 8 thừa sai Pháp )
– 16 thầy giảng và 1 chủng sinh (Tôma Trần văn Thiện )
– 42 giáo dân (1 phụ nữ : Thánh Annê Lê thị Thành ).
Theo giòng thời gian, giữa 117 anh hùng đức tin có :
– 2 Vị tử đạo thời Chúa Trịnh Doanh (1740 -1767 )
– 2 Vị đổ máu đào dưới đời Chúa Trịnh Sâm (1767 -1782 )
– 2 Vị đời Vua Cảnh Thịnh (1782 – 1802 )
– 57 Vị tử đạo đời Vua Minh Mạng (1820 – 1841 )
– 3 Vị đời Vua Thiệu Trị ( 1841 – 1847 )
– 51 Vị dưới đời Vua Tự Ðức (1847 – 1883)
Bên cạnh những vị thừa sai và thầy cả can trường, sống chết với đoàn chiên để bảo vệ đức tin, vẫn còn những thừa sai âm thầm thu thập những tài liệu, nghiên cứu, như giám mục Jean Louis Taberd (Từ ) (MEP) với sự cộng tác tích cực của chủng sinh Philipphê Phan văn Minh và Gioan Ðoàn trinh Hoan ( hai vị Thánh linh mục tử đạo tương lai ) tại chủng viện Pénang. Các vị lưu lại hai cuốn tự điển được đánh giá cao về phương diện ngữ học Việt Nam :
* Nam Việt Dương hiệp Tự Ðiển (Dictionarium Anamitico – latinum ), sách dày 820 trang, khổ lớn 21 cm x 27 cm .
* Dictionarium latino – Anamiticum, dày 708 trang với 85 trang phụ lục học tiếng Latin; 135 trang đàm thoại 4 thứ tiếng Việt – Latin – Pháp – Anh ; “Inê Tử Ðạo văn ” dài 563 câu và phụ thêm “An Nam Ðại Quốc hoạ đồ ” (75 x 50 cm), sách ấn hành tại Bengale (Ấn Ðộ) vào năm 1838 .
Năm 1868, dưới triều Vua Tự Ðức, một chiếu chỉ được ban hành, triều đình phân loại hai hạng con dân trong nước :”lương dân ” bao gồm những con dân hiền lành, lương thiện, an phận thủ thường; và “dữu dân ” là những người theo đạo “Da Tô “, đạo Tây phương, những người xấu như chính từ ngữ “dữu ” diễn tả, dữu là tên loài cỏ dại, mọc chung và phá hoại ruộng lúa? Phải chăng triều đình muốn áp dụng hình ảnh dụ ngôn “giống cỏ dại ” trong Tin Mừng Matthêu 13,24-30 ? Vì thế, những đóng góp xây dựng bảo vệ đất nước của sĩ phu Công giáo như Nguyễn trường Tộ không được triều đình nhà Nguyễn chấp nhận .
Máu đào tử đạo làm phát sinh hạt giống đức tin, vào cuối thế kỷ XIX, tình hình Giáo Hội tăng trưởng không ngừng, trong cánh đồng truyền giáo có thêm sự góp mặt của các dòng tu đến từ Âu Châu : Dòng Kín chiêm niệm, Dòng Sư huynh Lasan, Dòng Chúa Quan Phòng, Dòng Thánh Phaolô thành Chartres tiếp tay trong các hoạt động văn hoá, xã hội. Thống kê vào năm 1889 của 8 giáo phận như sau :
1- Giáo phận Tây Ðàng Trong : Giám mục Jean Dépierre Ðễ (MEP), 52 thừa sai, 42 thầy cả, 189 nhà thờ và nhà nuyện, 2 chủng viện với 214 chủng sinh, 1 nhà Dòng Kín, 12 cơ sở xã hội Dòng Phaolô thành Chartres với 130 nữ tu, 4 nhà Dòng Mến Thánh Giá với 295 dì phước, 110 trường học dạy 7.236 học sinh, 5 viện mồ côi chăm sóc 620 trẻ em, 5 bệnh viện thường xuyên điều trị 4000 bệnh nhân và 56.000 giáo hữu .
2- Giáo phận Ðông Ðàng Trong : Giám mục Désiré Van Camelbeke (MEP), 25 thừa sai, 14 thầy cả, 40 nhà thờ, 1 chủng viện với 54 chủng sinh, 12 nhà dòng nữ với 440 nữ tu, 2 viện mồ côi chăm sóc 894 em, 10 trường học dạy 472 học sinh và 17.773 giáo dân .
3- Giáo phận bắc Ðàng Trong : Giám mục Louis Marie Caspar Lộc (MEP) 20 thừa sai, 26 thầy cả , 58 nhà thờ và nhà nguyện, 2 chủng viện với 51 chủng sinh, 7 tu viện với 420 chị em Dòng Mến Thánh Giá, 34 trường học dạy 920 học sinh, 2 viện mồ côi chăm sóc 200 em và 19.932 giáo dân .
4- Giáo phận Cao Miên : 1 Giám mục, 26 thừa sai, 3 thầy cả, 24 thầy giảng, 58 nhà thờ và nhà nguyện, 1 chủng viện với vơi 96 chủng sinh, 3 tu viện Dòng Chúa Quan Phòng với 42 nữ tu, 3 tu viện dòng Mến thánh Giá, 4 viện mồ côi 2 bệnh viện, 5 trường học dạy 1.947 học sinh và 17.500 bổn đạo .
5- Giáo phận Tây Ðàng Ngoài : Giám mục Pierre Jean Marie Gendrau Ðông (MEP), 43 thừa sai, 97 thầy ca, 3 củng viện với 355 chủng sinh, 425 nhà thờ và nhà nguyện và 200.000 tín hữu .
6- Giáo phận Ðông Ðàng Ngoài : giám mục José Terres Hiến (OP), 8 giáo sĩ Ða minh Tây ban Nha và 2 Việt nam, 32 thầy cả, 82 thầy giảng, 40 đại chủng sinh, 281 tiểu chủng sinh, 3 tu viện với 58 nữ tu Ða Minh, 6 nữ tu dòng Phaolô thành Chartres, 1 bệnh viện, 4 viện mồ côi, 21 hạt với 208 họ đạo và 41.120 tín hữu .
7- Giáo phận Nam Ðàng Ngoài : Giám mục Louis Pineau Trị (MEP), 22 thừa sai, 59 thầy cả, 2 chủng viện với 160 chủng sinh, 58 trường học dạy thường xuyên 2.410 học tròvà 72.000 tín hữu .
8- Giáo phận Trung Ðàng Ngoài : Giám mục Mazime Fernandez Ðịnh (OP), 12 giáo sĩ Ða minh Tây ban Nha và 4 Việt Nam, 66 thầy cả, 52 đại chủng sinh, 66 tiểu chủng sinh, 19 tu viện nữ Ða Minh, 3 bệnh viện, 710 họ đạo và 189.110 giáo dân (3)
Những thập niên cuối thế kỷ XIX, Giáo Hội quan tâm thiết lập các nhà in để phổ biến sách kinh, giáo lý, tu đức, phụng vụ, Kinh Thánh, các lọai tự điển, sách giáo khoa như nhà in Tân Ðịnh, Kẻ Sở, Ninh Phú đường, Trung hòa, Làng Sông … Về mặt văn hoá có những tác phẩm lịch sử, tự điển, phiên dịch của Trương vĩnh Ký và Huỳnh tịnh Của; về phần thiêng liêng tu đức không thể không đề cập đến các sách của cha Phaolô Qui, cha Hồ ngọc Cẩn. Tuần báo “Nam Kỳ địa phận ” phát hành liên tục từ năm 1908 – 1945 (4)
(còn tiếp)
Nguồn: hdgmvietnam.com