Trong những giai thoại về thánh Ẩn tu vào những thế kỷ đầu của Ki-tô giáo, có câu truyện như sau: có bẩy vị ẩn tu nọ kéo nhau đến sống trong một ngôi đền bỏ hoang của người Ai Cập. Phía trước ngôi đền có một pho tượng, đây là pho tượng duy nhất còn sót lại sau khi ngôi đền bị tàn phá. Người cao niên nhất trong bẩy anh em được bầu làm Bề trên của một cộng đoàn. Để dạy cho anh em quy luật cơ bản của đời sống cộng đoàn, mỗi sáng ông ra đứng trước pho tượng, nhặt một hòn đá ném vào đó. Chiều đến, ông lại ra trước pho tượng và xin lỗi về hành động ném đá của ông. Cử chỉ khác thường của vị Bề trên này kéo dài trong một thời gian khá lâu.
Ngày nọ, không còn nén nổi tính tò mò, một người anh em trong cộng đoàn đã hỏi lý do của hành động khó hiểu ấy. Vị Bề trên trả lời bằng cách hỏi lại người đó như sau: “khi ta ném đá vào pho tượng, pho tượng có lung lay không?” Người kia trả lời: “không”. Vị Bề trên tiếp tục hỏi: “Buổi chiều khi ta đến xin lỗi, pho tượng có để lộ sự xúc động nào không?” Người kia cũng trả lời: “không”. Vị Bề trên mới giải thích: “Anh em thân mến, chúng ta có tất cả bẩy người trong cộng đoàn, nếu chúng ta muốn sống hiệp nhất yêu thương nhau, chúng ta cũng hãy sống như pho tượng này, đừng ai trong chúng ta tỏ ra giận dữ khi có người anh em xúc phạm đến ta, và cũng đừng có ai trong chúng ta tỏ ra hãnh diện khi có người đến xin lỗi mình.”
Lời khuyên trên đây của vị Bề trên đã được mọi người vui vẻ đón nhận, và từ đó họ sống với nhau trong hòa thuận an bình.
“Hãy để cho tôi yên”, có lẽ đó là phản ứng thông thường của chúng ta khi bị người khác quấy rầy. Ai cũng muốn tránh sự quấy rầy của người khác, ai cũng muốn co cụm trong vỏ ốc của mình. Thực ra, sự bình an nội tâm không là kết quả của sự trốn chạy, nhất là trốn chạy khỏi tha nhân. Kinh nghiệm cho thấy càng trốn chạy khỏi tha nhân, càng khước từ tha nhân, xua đuổi tha nhân ra khỏi tâm hồn, chúng ta càng cảm thấy bị đầy đọa và cô đơn.
Một trong những điều kiện để có bình an nội tâm thực sự chính là đón nhận tha nhân, là tạo được sự hài hòa với tha nhân. Quy luật cơ bản mà vị Bề trên trong câu truyện trên áp dụng cho cộng đoàn của mình, cũng có giá trị cho mỗi người chúng ta. Sống là sống cùng, sống là sống với tha nhân, cuộc sống cùng và cuộc sống với đó, chỉ thực sự có, khi con người biết chấp nhận nhau, biết tha thứ cho nhau, “Thầy để lại cho các con sự bình an, Thầy ban bình an cho các con,” đó là di chúc mà Chúa Giêsu để lại cho chúng ta. Sự bình an ấy là gì nếu không là chính Chúa Giêsu. Chính Ngài là sự bình an của chúng ta, Ngài trao ban chính mình cho chúng ta, chúng ta chỉ thực sự có được bình an trong tâm hồn, khi chúng ta để cho sức sống của Ngài tràn ngập trong chúng ta, đó là sức sống của một con người đã sống và đã chết trọn vẹn cho tha nhân, đó là sức sống của một con ngườikhi bị khước từ, hành hạ mà vẫn còn mở miệng để tha thứ.
Lạy Chúa, xin cho chúng con được sống trong bình an của Chúa. Xin cho chúng con được cảm thấy hạnh phúc và an bình, khi chúng con biết sống cho tha nhân.
(R. VERITAS, Tiếng hót Sơn Ca, Năm phút suy tư và cầu nguyện, tr. 221-223)










