Trước khi Đức Thánh Cha bắt đầu bài giáo lý, cộng đoàn cùng lắng nghe bài Sách Thánh được trích từ sách Sáng Thế (St 2, 8-9a.15):
Rồi ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa trồng một vườn cây ở Ê-đen, về phía đông, và đặt vào đó con người do chính mình nặn ra. ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa khiến từ đất mọc lên đủ mọi thứ cây trông thì đẹp, ăn thì ngon. ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn Ê-đen, để cày cấy và canh giữ đất đai.
Bài giáo lý của Đức Thánh Cha
Anh chị em thân mến, chào anh chị em và chào mừng tất cả anh chị em!
Tiếp tục hành trình tìm hiểu Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes của Công đồng Vaticanô II, chúng ta đến với chương ba của phần thứ nhất, có một tựa đề lôi cuốn: “Hoạt động của con người trong vũ trụ”. Câu hỏi căn bản là: hoạt động của con người trong thế giới, và vì thế tiến bộ kỹ thuật, xã hội, khoa học, có giá trị gì? Có thể nhắc lại rằng, chưa đầy bốn năm sau khi Công đồng bế mạc, vào đêm từ ngày 20 sang ngày 21 tháng Bảy năm 1969, lần đầu tiên con người đã đặt chân lên Mặt Trăng.
Được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, con người là chủ thể của sự tiến bộ. Với tự do và trí tuệ, con người gia tăng kiến thức của mình, nhờ đó giúp toàn thể xã hội tiến bộ. Điều này dễ nhận thấy khi nhìn vào những cải thiện trong điều kiện sống qua các thế hệ. Thật vậy, Văn kiện nói: “Nhiều điều tốt đẹp mà xưa kia con người trông chờ nơi các quyền lực siêu nhiên, thì nay họ tự tạo ra bằng sáng kiến và sức lực của mình” (số 33).
Vì thế, một số nhà tư tưởng đã trình bày sự tiến bộ khoa học-kỹ thuật như điều làm suy yếu mối tương quan với Thiên Chúa, đến mức khiến Người có vẻ trở nên dư thừa, hoặc thậm chí đối nghịch với đức tin Kitô giáo. Cách nhìn này đã làm thay đổi cách con người thời đại nhìn thế giới, so với các thời trước. Định kiến ấy đặc biệt phổ biến trong bộ phận của văn hóa phương Tây đã đánh mất điểm quy chiếu là Mặc khải Kitô giáo. Trong các chủ nghĩa nhân bản hậu Kitô giáo, con người và Thiên Chúa bị trình bày sai lầm như những đối thủ: để khẳng định tri thức, tự do và sự tiến bộ của mình, con người được cho là phải tự giải phóng khỏi Thiên Chúa. Nhưng rốt cuộc, khi phủ nhận tương quan với Thiên Chúa, họ cũng mất đi khả năng khẳng định giá trị siêu việt của nhân vị. Đó là “bi kịch của chủ nghĩa nhân bản vô thần”, được nhà thần học quan trọng của Công đồng Vaticanô II, Henri de Lubac, diễn tả rất rõ.[1]
Công đồng muốn đưa ra câu trả lời rõ ràng: “Đối với các tín hữu – Gaudium et spes khẳng định – có một điều chắc chắn: tự bản thân, hoạt động cá nhân và tập thể của con người, tức nỗ lực to lớn mà con người qua các thế kỷ nhằm cải thiện điều kiện sống của mình, phù hợp với ý định của Thiên Chúa” (số 34). Hơn nữa, Hiến chế tiếp tục: “Các Kitô hữu thậm chí không hề nghĩ đến việc đặt các sản phẩm của tài năng và sự can đảm của con người đối lập với quyền năng của Thiên Chúa, như thể thụ tạo có lý trí là đối thủ của Đấng Tạo Hóa; trái lại, họ xác tín rằng những chiến thắng của nhân loại là dấu chỉ sự cao cả của Thiên Chúa và là hoa trái của kế hoạch khôn dò của Người” (sđd.). Tóm lại, Thiên Chúa đã đặt vào tay người nam và người nữ một công trình tạo dựng vẫn còn in statu viae, nghĩa là đang trên đường, đang phát triển, để họ đưa công trình ấy đến chỗ hoàn tất bằng hoạt động khôn ngoan của mình.[2]
Ở đây có một lời gợi nhắc quan trọng về mầu nhiệm Nhập Thể. Nhân loại – cùng với lao động, sự tiến bộ và tính tự lập của các thực tại được tạo dựng – không bị hấp thụ hay hủy bỏ trong cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa, nhưng được đón nhận trong tính toàn thể của mình, tiếp tục tự do và hoạt động trong Chúa Kitô: thật vậy, chính trong Người, nhân loại tìm được sự thật và tự do trọn vẹn. Hơn nữa, trong cử hành Thánh Thể, hoa trái của lao động con người, được biểu trưng bởi bánh và rượu, hằng ngày được đặt trên bàn thờ để được biến đổi thành Mình và Máu Chúa Kitô.
Từ viễn tượng này, một chân lý quan trọng nổi lên: để gặp gỡ Thiên Chúa, con người không cần phải từ bỏ các công việc trần thế, nhưng có thể sống trọn vẹn ơn gọi của mình bằng cách chu toàn công việc thường ngày và thánh hóa công việc ấy.[3] Các Kitô hữu cũng như mọi người đều tham gia xây dựng thành đô của loài người, hướng đến cùng đích của mọi sự và cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa, đồng thời nhắc nhớ cùng đích này cho những người cùng chia sẻ với họ cuộc phiêu lưu của tiến bộ, khoa học và cuộc sống.
Chắc chắn, cần phân biệt rõ ràng tiến bộ trần thế với sự phát triển Vương quốc Chúa Kitô; tuy nhiên, Công đồng khẳng định rằng: “Tiến bộ ấy, trong mức độ có thể góp phần làm cho xã hội nhân loại tốt hơn, có tầm quan trọng lớn đối với Nước Thiên Chúa. […] Mọi hoa trái tốt đẹp của thiên nhiên và công sức của chúng ta, sau khi chúng ta đã làm cho lan tỏa trên mặt đất trong Thánh Thần của Chúa và theo lệnh truyền của Người, rồi chúng ta sẽ tìm lại được chúng, nhưng đã được thanh tẩy khỏi mọi vết nhơ, được chiếu sáng và biến đổi” (số 39).
Cuối cùng, hãy nhớ rằng để trở thành sự tiến bộ thực sự của con người – tức là của toàn thể con người và của mọi người – tiến bộ kỹ thuật và khoa học phải được đức ái thúc đẩy và định hướng. Chỉ như thế, tiến bộ ấy mới luôn phục vụ việc bảo vệ phẩm giá con người và thúc đẩy các điều kiện sống của mọi người, nhất là những người thiệt thòi nhất.
Anh chị em thân mến, Công đồng Vaticanô II mời gọi chúng ta chia sẻ bánh của tri thức và kỹ năng, để mỗi người và mỗi dân tộc có thể phát triển những khả năng của mình và cùng nhau, với sự trợ giúp của Thiên Chúa, xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn.
—-
[1] H. de Lubac, Le drame de l’humanisme athée (1944), bản dịch tiếng Ý, Brescia 2013.
[2] Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo, các số 302, 306, 307.
[3] Thánh Gioan Phaolô II, Bài giảng trong Thánh lễ phong thánh cho Josemaría Escrivá de Balaguer (6 tháng 10 năm 2002).
—
Trích từ buổi Tiếp kiến chung sáng thứ tư ngày 23/9/2026.
Nguồn: vaticannews.va/vi









