1/. BẢN TIN:
Các trưởng có thể tìm được bao nhiêu từ có nghĩa từ ô chữ dưới đây.

2/. KHOÁ:
– Các từ có thể được ghi ngược, ghi xuôi, ghi theo đường chéo.
– Các từ được viết bằng tiếng Việt, có dấu và được ghi theo “Bản dịch Kinh Thánh do Nhóm Phiên Dịch CÁC GIỜ KINH PHỤNG VỤ thực hiện”.
3/. HƯỚNG DẪN GIẢI MẬT THƯ:
Dưới đây là những từ có nghĩa mà chúng ta có thể tìm thấy:
– Ê-đen: Vườn cây do Thiên Chúa trồng, nằm ở phía đông. (St 2, 8),
– Ghi-khôn: Tên nhánh sông thứ hai của con sông chảy ra từ Ê-đen. (St 2, 10-13)
– Kê-ru-bim: Những “thần” canh giữ đường đến cây trường sinh trong vườn Ê-đen. (St 3, 23-24).
– Chăn chiên: Nghề nghiệp của ông A-ben. (St 4, 2)
– Nốt: Là nơi mà ông Ca-in đã ở, sau khi giết chết A-ben và bị Thiên Chúa trừng phạt. (St 4, 10-16).
– Kham: Tên của một trong ba người con trai của ông Nô-ê. (St 6, 10).
– Ô-liu: Nhành lá ô-liu tươi mà con chim bồ câu đã mang về cho ông Nô-ê (St 8, 11).
– Cây cung: Cây cung của Đức Chúa gác trên mây, dấu hiệu giao ước giữa Đức Chúa với con người về việc sẽ không còn hồng thuỷ để tàn phá mặt đất. (St 9, 8-16).
– Sin-a: Tên của vùng đất, nơi mà con người xây tháp Ba-ben (St 11, 1-9).
-Kha-ran: Nơi mà ông Áp-ram đã ở và tạo dựng cơ nghiệp, trước khi được Thiên Chúa mời gọi đi tìm Đất Hứa (St 12, 1-5).
– Mam-rê: Nơi ở mới của ông Áp-ram tại Khép-rôn, sau khi chia tay với ông Lót (St 13, 14-18).
– Sa-lem: Tên thành của vua Men-ki-xê-đê, người là tư tế của Đức Chúa Tối Cao, đã đến chúc phúc ông Áp-ram, sau khi ông Áp-ram chiến thắng kẻ thù và giải cứu được ông Gióp (St 14, 12- 24).
– Ha-ga: Người nữ tỳ Ai Cập của bà Xa-rai, mẹ của ông Ít-ma-ên (St 16, 1.3-4.15).
-Xơ-đôm: Tên của toà thành mà ông Áp-ra-ham đã “kỳ kèo, trả giá” với Đức Chúa để thành không bị phá huỷ (St 18, 22-32).
– Xô-a: Tên của toà thành mà ông Lót đã trốn vào khi trên đường tháo chạy khỏi thành Sơ-đôm (St 19, 15-24).
– Cột muối: Vợ ông Lót đã bị hoá thành vì ngoái lại đằng sau, nơi 2 thành trì đang bị phá huỷ (St 19, 22-26).











